Tin tức

Nghiên cứu khoa học ở khoa Toán - cái nhìn trực diện của người trong cuộc

Khoa Toán, cái nôi tri thức của chúng ta, hiện nay ra sao? Có lẽ câu hỏi đó ám ảnh nhiều người trong chúng ta. Dưới đây là Báo cáo mà BCN Khoa Toán đặt hàng tôi viết nhằm đại diện Khoa trình bày tại Hội nghị Khoa học ĐHKHTN Hà Nội 10/2010. Số phận của Báo cáo này sẽ là đối tượng của một bài viết khác.

Hội nghị khoa học của ĐHKHTN Hà Nội cứ 2 năm tổ chức một lần. Cũng như hết thẩy các hội nghị hay đại hội trên đất nước ta, cứ mỗi lần tổ chức là một lần nó thành công tốt đẹp. Vâng, Hội nghị khoa học của ĐHKHTN Hà Nội 2 năm một lần thành công tốt đẹp.

Đằng sau sự thành công đó là những con số biết nói, làm ta đau lòng. Trong số 70 thành viên của khoa Toán-Cơ-Tin học (sau đây xin gọi tắt là Khoa Toán), chỉ có 8 người có ít nhất 10 công bố được điểm trên MathSciNet, trong đó 7 người vẫn còn công bố trong 5 năm gần đây. Nhìn từ góc độ khác, hiện nay Khoa Toán chỉ có 3-4 người có ít nhất 10 công bố ISI.

Ba bốn mươi năm trước, Khoa Toán là cơ sở nghiên cứu Toán học số 1 của Việt Nam. Điều đó không phải bàn cãi. Ngày nay, vị trí số 1 ấy đã mất về tay một cơ quan không có trách nhiệm giảng dậy. Ngay cả nếu chúng ta muốn tự cho Khoa Toán là số 1 trong khuôn khổ các khoa Toán của các đại học Việt Nam, thì hiện nay điều đó cũng chưa hẳn đã được thừa nhận, và thực tế cũng chưa chắc đã đúng. Cũng khoảng vài chục năm trước, nền Toán học ViệtNamlà số 1 trong khu vực Đông Nam Á, và hơn hẳn Hàn Quốc. Ngày nay, chúng ta đã tụt hậu so với Hàn Quốc, bắt đầu tụt hậu so với Singapore, và khoảng cách tụt hậu càng ngày càng lớn. Vì đâu nên nỗi này?

Phải thẳng thắn nhìn nhận rằng ở VN việc đầu tư nghiêm túc cho khoa học, đặc biệt là khoa học cơ bản, chưa bao giờ được thực hiện. Toàn bộ nền Toán học Việt Nam, nói riêng là Khoa Toán, tồn tại được đến ngày hôm nay là nhờ kinh phí của nước ngoài. Trong thời kỳ bao cấp, đó là kinh phí của Liên Xô và các nước Đông Âu, được cấp thông qua viện trợ không hoàn lại về đào tạo khoa học. Ngày nay, kinh phí này chủ yếu đến từ các nước tư bản phát triển thông qua các học bổng du học, tìm được dựa trên những nỗ lực cá nhân. Hệ quả tất yếu của sự lệ thuộc ấy là chúng ta chưa bao giờ tự chủ được trong đào tạo nhân lực, và do đó trong phát triển nghiên cứu khoa học.

Thời bao cấp, mỗi năm Khoa Toán được nhà nước phân bổ vài suất nghiên cứu sinh. Đó là kết quả đàm phán của Chính phủ VN với các nước Đông Âu, cho nên thường chẳng liên quan gì đến nhu cầu phát triển nội tại của Khoa Toán. Việc cử người đi làm nghiên cứu sinh lại nặng về chủ nghĩa lý lịch, nói ngắn gọn, theo chủ nghĩa này ai sinh ra trong một gia đình nghèo hơn thì đáng tin cậy hơn. Ai được cử đi làm nghiên cứu sinh ở nước ngoài thì cuộc đời lên hương, đỗ đạt và thành danh, bởi vì hễ được cử đi thì không có ai lại không mang được bằng về. Chúng ta từng chứng kiến những đôi bạn mà khi tốt nghiệp đại học thì chả biết ai hơn ai, cả về thiên tư lẫn hoài bão, vậy mà một người được cử làm nghiên cứu sinh nước ngoài thì rồi có đủ mọi thứ bằng cấp và bổng lộc, còn người ở nhà thì tay trắng. Sự thật, đào tạo trên đại học thời bao cấp là một bổng lộc nhiều hơn là một sự rèn luyện khoa học.

Ngày nay, bầu sữa bao cấp đã hết, cũng chẳng còn chỗ cho chủ nghĩa lý lịch. Khoa Toán cũng như toàn bộ nền khoa học ViệtNamlại sống nhờ vào các học bổng du học tại các nước tư bản phát triển, chủ yếu do vận động cá nhân đem lại. Một lần nữa, Khoa Toán cũng như các cơ sở khoa học khác của ViệtNamkhông tự quyết định được sự đào tạo nhân lực của chính mình (hướng đào tạo, số lượng được đào tạo, nơi đào tạo…). Nói nôm na, người ta cho mình cái gì thì mình được cái đó.

Cái khác nhau căn bản giữa thời bao cấp và thời kinh tế thị trường là ở chỗ, trong thời bao cấp mọi người được cử đi học nước ngoài đều bị bắt buộc phải trở về nước phục vụ. Ai không về thì gia đình và thậm chí dòng họ của  người ấy lãnh đủ. Còn nhớ khoảng 1980-81, ông Trần V. H., một người từng nhiều năm là Bí thư chi bộ Khoa Toán, dù lúc ấy không còn làm việc tại ĐHTH Hà Nội, đã trốn ở lại Pháp sau một thời gian du học. Tin ấy đã làm chấn động làng Toán học ViệtNamchẳng khác nào tin Hoàng Văn Hoan đào tẩu sang Trung Quốc. Ngày nay, không biết bắt đầu từ bao giờ, các bạn trẻ VN du học ở nước ngoài không còn bắt buộc phải về nước. Và thực tế là phần lớn họ đều không về nước. Kể ra cũng khó đòi hỏi họ phải rời bỏ một nơi có lương tháng vài nghìn đôla để về một nơi có lương tháng chừng hơn 100 đôla. Cái quyền được lựa chọn đó đương nhiên là tốt đối với họ, nhưng một cách khách quan thì bất lợi cho nền khoa học ViệtNam.

Trên một khía cạnh khác, các nhà toán học ViệtNamkhông ai sống được bằng lương. Tiền lương của họ chỉ trang trải được chừng một phần ba chi phí trực tiếp của gia đình. Mọi người đang nghiên cứu Toán ở VN, kể cả các giáo sư thành đạt nhất, đều hoặc sống bằng tiền để dành trong những chuyến công tác nước ngoài, hoặc còn trẻ cho nên được cha mẹ nuôi. Những ai kiếm sống bằng cách dậy thêm nói chung không thể nghiên cứu toán được nữa.

Một câu hỏi nghiêm túc được đặt ra là: Liệu chúng ta có thể xây dựng nền khoa học Việt Nam bằng tiền của nước ngoài được hay không? Khi khoa học nước ta còn rất yếu kém, thì các nước khác không thèm để ý. Thử hỏi tới khi khoa học nước ta có thể so bì với họ, thì họ còn sẵn lòng cấp học bổng cho chúng ta mãi hay không?

Có người phản bác rằng nhà nước ta vẫn đầu tư cho đào tạo tiến sĩ đấy chứ. Xin thưa rằng chi phí cho đào tạo mỗi tiến sĩ của nước ta vừa quá ít, vừa được phân bổ cào bằng. Trong nhiều ngành kỹ thuật hay kinh tế, một giáo sư có thể hướng dẫn cùng lúc 7-10 NCS. Báo chí đã từng nêu, ở nhiều trường đại học, các luận án tiến sĩ được bầy bán sẵn trong các cửa hàng photo copy trước cổng trường. Tất nhiên làm hàng rởm thì nhanh hơn làm hàng thật. Cho nên, trên thực tế, nguồn kinh phí của nhà nước chủ yếu để nuôi những kẻ đào tạo tiến sĩ chất lượng thấp. Những người đào tạo tiến sĩ mà luận án có 2 công bố ISI trở lên thì suốt đời thiệt thòi, vì thù lao chẳng thấm tháp vào đâu so với công sức bỏ ra.

Để thoát khỏi tình trạng trên, chúng tôi đề xuất 3 giải pháp cơ bản sau đây.

Giải pháp 1: Nhà nước đầu tư cho những nhóm nghiên cứu mạnh, nhằm tự chủ đào tạo trong nước, chủ động gửi người ra nước ngoài đào tạo theo đúng hướng mình cần bổ sung. Tăng cường hợp tác quốc tế trên cơ sở nội lực.

Mỗi nhóm nghiên cứu mạnh thường được dẫn dắt bởi một giáo sư có công bố quốc tế tốt, được nhiều đồng nghiệp nước ngoài biết và duy trì quan hệ. Nhóm này thường có một tập thể tiến sĩ trẻ, tài năng và giầu khát vọng khoa học. Trên nền tảng đó, nhóm tự chủ đào tạo nhân lực cho chính mình, đồng thời định hướng việc gửi người đào tạo ở nước ngoài theo những chuyên ngành hẹp mà nhóm còn yếu, và đào tạo giúp các nhóm lân cận. Hợp tác quốc tế của nhóm được định hình trên cơ sở nội lực nghiên cứu của nhóm. Có một quan niệm sai lầm nhưng rất phổ biến, theo đó hợp tác quốc tế có nghĩa là nói được tiếng Anh trôi chảy, và có nhiều quà cáp tiệc tùng để lấy lòng đối tác. Nếu quả thật như thế, chỉ cần tuyển mấy cô tốt nghiệp tiếng Anh là được. Sự thật, hợp tác quốc tế chỉ thật sự có nội dung và bền chặt nếu mỗi bên đều có thực lực khoa học, và cùng làm việc để hỗ trợ lẫn nhau.

Trên thực tế, những nhóm nghiên cứu mạnh của Khoa Toán nói riêng, của nền khoa học VN nói chung, rất hiếm. Những nhóm này cần được chăm sóc. Có một “Định luật bảo toàn các Nhóm nghiên cứu mạnh” phát biểu (vui) như thế này: “Các nhóm nghiên cứu mạnh không tự nhiên sinh ra, cũng không tự nhiên mất đi. Chúng chỉ chuyển từ dạng này sang dạng khác, hoặc từ cơ quan này sang cơ quan kia”. (Tất nhiên chúng chuyển về hướng có quyền lợi vật chất và tinh thần cao hơn, có điều kiện làm việc tốt hơn.)

Đào tạo theo Chương trình 322 của nhà nước nặng về tự phát, ai thích gì học nấy. Đào tạo theo Chương trình tiên tiến cũng nặng tính hình thức, không hiệu quả. Tôi khuyến cáo nhà nước đầu tư dựa trên thế mạnh nội lực của từng khoa, thông qua từng nhóm nghiên cứu mạnh.

Việc chủ động đào tạo nhân lực cho nhóm nghiên cứu gắn chặt với việc đào tạo nghiên cứu sinh. ĐHKHTN Hà Nội đang phấn đấu trở thành một đại học nghiên cứu, theo mô tả sẽ có số NCS và học viên cao học nhiều hơn số sinh viên. Đáng tiếc là từ nhiều năm nay, do được tính thù lao cao hơn một chút, dạy cao học ở ĐHKHTN Hà Nội không được tính vào giờ dậy nghĩa vụ. Nói cách khác, ai muốn kiếm thêm tiền thì dậy cao học. Chúng tôi đã phản đối điều này với ông Hiệu trưởng, nhưng sự việc không được giải quyết.

Mặt khác, ngày xưa Khoa Toán chỉ dậy cho khoa mình và các khoa trong ĐHTH HN. Ngày nay, bên cạnh phần việc đó, Khoa Toán phải dậy cho tất cả các đơn vị trong ĐHQG, từ Sư phạm, Kinh tế, Luật, cho tới ĐHKHXH&NV… Vô hình trung, Khoa Toán bị biến thành một đội quân sai vặt. Vậy mà biên chế của khoa không được tăng. Dậy từng ấy giờ thì còn thời gian đâu mà nghiên cứu khoa học?

Do đó, hình thức cao của việc chủ động đào tạo ở Khoa Toán là để cho Khoa Toán trở thành một khoa độc lập trực thuộc ĐHQG. Khi đó, Khoa Toán có tư cách ngang hàng với các đơn vị khác trực thuộc ĐHQG để tự quyết định việc giảng dậy cho các đơn vị ấy.

Giải pháp 2: Nâng cao thu nhập thực tế, đảm bảo mỗi giáo sư chủ trì nhóm nghiên cứu mạnh có thu nhập 2000 USD/tháng, mỗi tiến sĩ với ít nhất 1 công bố ISI trong mỗi 2 năm có thu nhập 1000 USD/tháng. (Đó là mức lương bình thường của các nhà khoa học tại các nước lân bang với nước ta, và tại các nước nghèo khác nhưPakistan,Senegal…)

Mức thu nhập này, ngoài lương ra, trông vào các tài trợ khoa học. Gần đây, quỹ NAFOSTED đã có những tài trợ đáng mừng, nhưng còn rất nhỏ nhoi. Chẳng hạn, tiền công lao động do NAFOSTED cấp nếu chia đều cho mỗi tháng thì mỗi người được thêm một lương nữa, tức là chừng 300 USD/tháng cho một giáo sư.

ĐHKHTN Hà Nội cần tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà khoa học được NAFOSTED tài trợ. Hiện nay họ đang gặp 3 khó khăn sau đây.

Thứ nhất, một trong những thành công nổi bật của NAFOSTED là trao cho các nhà khoa học quyền tự chủ trong việc sử dụng kinh phí. NAFOSTED chỉ nghiệm thu thành quả khoa học là các công bố ISI. Tuy thế, ĐHKHTN Hà Nội bắt các chủ trì đề tài NAFOSTED làm báo cáo 6 tháng một lần, đó là điều kiện tiên quyết để được nhận kinh phí đợt nhỏ tiếp theo. Cũng hợp đồng lao động, cũng biên bản nghiệm thu hợp đồng, cũng sản phẩm thu được. Ai có thể in công bố khoa học sau 6 tháng nhận tài trợ? Làm như thế, ĐHKHTN Hà Nội khiến cho cố gắng của NAFOSTED trở nên vô nghĩa.

Thứ hai, mỗi đề tài NAFOSTED đều có Chi phí quản lý của đơn vị chủ trì, bằng 5% của tổng chi phí trực tiếp. ĐHKHTN HN dự thảo Quy chế sau: Ngoài chi phí gián tiếp, Chủ nhiệm đề tài trích 3% tổng chi phí trực tiếp cho Quỹ Phát triển đơn vị của ĐHKHTN. Những chủ trì đề tài NAFOSTED về Toán đã có thư gửi Ban Giám hiệu ĐHKHTN HN phản đối dự thảo này, vì các đề tài Toán không dùng gì đến máy móc để làm hao mòn trang thiết bị của trường. Nhưng đến nay thư của chúng tôi chưa có phúc đáp.

Thứ ba, NAFOSTED cấp kinh phí cho các đề tài làm 3 đợt, năm thứ nhất 65%, năm thứ hai 25%, và sau nghiệm thu 10%. ĐHKHTN HN lại chia kinh phí một đợt thành nhiều đợt nhỏ, tới nay đã cấp 2 đợt nhỏ mà vẫn chưa đủ kinh phí đợt 1. Có nên làm khó và mất thời giờ của các nhà khoa học thế hay không?

ĐHKHTN HN nên tạo điều kiện để các nhà khoa học chưa đủ sức làm đề tài NAFOSTED được nhận các đề tài cấp ĐHQG hay cấp ĐHKHTN. Các đề tài khoa học của Khoa Toán thường không được bao nhiêu tiền; so với các đề tài của các khoa khác thì thường là một con số rất nhỏ. Chẳng hạn, một nhóm nghiên cứu ở một khoa bạn thuộc ĐHKHTN được NAFOSTED tài trợ hơn 400 triệu trong 2 năm, nhưng đã trả lại đề tài. Trong khi đó, chỉ 1-2 đề tài của Khoa Toán có mức tài trợ như thế. Thiết tưởng, trường ĐHKHTN cũng nên nhận ra đặc thù đó của Khoa Toán, để tạo điều kiện cho các nhà toán học trẻ nhận tài trợ nghiên cứu cấp đại học.

Giải pháp 3: Cải thiện điều kiện làm việc, thực hiện các giáo sư có phòng làm việc riêng, những nhà khoa học khác thì 2-3 người có 1 phòng làm việc; bố trí thư viện ở gần đại học.

Tôi khẳng định rằng không có đại học nào nằm ngoài lãnh thổ VN lại giống như Khoa Toán, nơi mà mỗi Bộ môn chỉ có một phòng làm việc, không giáo sư nào có phòng làm việc riêng, các giáo sư nước ngoài đến thăm cũng không có phòng làm việc. Trong khi đó, trưởng phòng của các phòng ban trong trường (phần lớn những người này chưa phải là giáo sư) đều có phòng làm việc riêng rộng rãi. Nhân viên của các phòng ban cũng chia nhau những phòng làm việc rộng rãi hơn nhiều so với các khoa. Hãy thử tưởng tượng, ĐHKHTN không có các phòng ban, khi đó nó có thể khó hoạt động, nhưng vẫn cứ là một trường đại học. Trái lại, nếu ĐHKHTN không có các khoa, chỉ còn các phòng ban, khi đó nó sẽ trở thành một … công ty bán bằng.

Đề nghị Ban Giám hiệu phân bổ lại phòng làm việc, để các khoa có chỗ làm việc rộng hơn, các giáo sư có phòng làm việc riêng. Tiến thêm một bước, những người chưa là giáo sư được chia nhau 2-3 người một phòng làm việc.

Hãy hỏi bất kỳ một giảng viên nào của ĐHKHTN HN xem lần gần đây nhất người ấy đến thư viện là khi nào? Câu trả lời sẽ làm ta kinh ngạc. Bản thân tôi đã 20 năm không đến thư viện ĐHKHTN HN. Vừa nghèo nàn, vừa quá xa nơi làm việc, thư viện không có ai đến là chuyện dễ hiểu. Việc đặt thư viện ở cách nơi giảng dậy và làm việc gần chục km là điều không thấy ở đâu trên trái đất này. Điều ấy phải được sửa đổi.

Gần đây, nhân sự kiện Ngô Bảo Châu đoạt Huy chương Fields, nhà nước dự định chi hơn 600 tỷ đồng để lập Viện nghiên cứu Toán cao cấp trong vòng 10 năm, nhằm như người ta nói “đưa Toán học VN từ vị trí 50 lên vị trí 40 thế giới”. Tôi không biết họ dựa vào đâu để đưa ra các thứ hạng đó. Tôi cũng không tin rằng một viện toán như thế trong vòng 10 năm sẽ tác động tích cực vào nền văn hoá nước ta. Tôi cho rằng con đường hiệu quả nhất để nhà nước đầu tư cho khoa học cơ bản là thông qua giáo dục đại học. Nói riêng, số tiền hơn 600 tỷ nói trên đáng lẽ nên dùng để chấn hưng việc giảng dậy và nghiên cứu Toán học trong hệ thống đại học VN. Hãy nhìn nước Mỹ. Họ có một hệ thống đại học hùng mạnh, nhưng chỉ có 2 viện toán: Viện MSRI (Berkeley) chỉ có một viện trưởng (là người đã về hưu ở đại học), các thành viên đều là khách mời luân phiên; viện IAS (Princeton) là một viện tư nhân, chỉ có chừng 5-6 thành viên cố định, cùng với các khách mời luân phiên. Viện nghiên cứu Toán cao cấp VN cũng chỉ nên có 1 viện trưởng, còn lại là khách mời luân phiên. Điều quan trọng là đừng biến Viện toán cao cấp này thành viện chỉ của những người trong viện. Không biết sau khi đã tiêu hết số tiền hơn 600 tỷ đồng trong 10 năm thì Viện nghiên cứu Toán cao cấp của VN sẽ được cấp thêm tiền hay sẽ giải thể?

Từng nghe: “Ngũ thập tri thiên mệnh”, nghĩa là “Năm mươi tuổi thì hiểu được mệnh trời”. Tôi đã ở cái tuổi ấy để bình thản nhìn sự vật đổi thay.

Trong bức tranh chung tối màu của sự nghiên cứu khoa học ở Khoa Toán cũng có một mảng sáng loé lên. Đó là mảng về các bạn trẻ. Có 2 bạn tuổi ngoài 30 (Trần NgọcNam, Lê Minh Hà) đã có 5-6 công bố SCI trên những tạp chí chất lượng rất cao. Có 3 bạn trẻ hơn, vừa bảo vệ tiến sĩ đã có 3 bài ISI trên những tạp chí rất tốt (Đặng Anh Tuấn, Võ Thị Như Quỳnh, Đào Phương Bắc). Những thành tích đó nhiều bậc lão thành còn khó đạt được.

Trên cơ sở nhìn thẳng vào thực trạng nghiên cứu khoa học ở Khoa Toán, tôi coi 3 giải pháp trình bày ở trên như 3 điều ước. Thực hiện 3 điều ước ấy không dễ. Nhưng đó là khởi đầu căn bản để xây dựng một Khoa Toán có thể tự chủ được sự phát triển của mình trong đào tạo và nghiên cứu khoa học. Không thực hiện được 3 giải pháp ấy, đừng nói đến chuyện xây dựng Khoa Toán, hay thu hút nhân tài, dù là những người được đào tạo ở trong hay ngoài nước. Khi đó, Khoa Toán sẽ như cái cây héo dần vì thiếu nhựa sống, dù rằng các Hội nghị khoa học của ĐHKHTN Hà Nội thì cứ 2 năm lại một lần thành công tốt đẹp.

(Nguồn: diendantoanhoc.net)

Back to Top